này chỉ có duy nhất ở Nhật Bản. Thơ Haiku mô tả thiên nhiên hoặc tình cảm con người bằng những từ gọi là kigo (quý ngữ) hoặc kidai (quý đề) để gợi 1 thoáng cảm giác. Ngôn ngữ trong thơ haiku thường hay gợi ý hay ẩn chứa 1 thông điệp nào đó thông qua những vần thơ được thể hiện 1 cách nhẹ nhàng và sâu sắc, cô đọng và rất đẹp.(Dịch từ Haiku no Fuukei-Thơ Haiku và Thiên Nhiên)
Đây là 1 bài thơ tiêu biểu của thể thơ Haiku
Kongoku no
Tsuyuhitotsubu ya
Ishi no ue.
Chỉ là 1 giọt sương
Nằm trên tảng đá
Mà không gì huỷ diệt được.
(Thơ Haiku của thi sĩ Kawabata Bosha)
Kongoku trong tiếng Nhật có nghĩa là kim cương (kongoku seki-đá kim cương) Trong thuật ngữ của Phật Giáo, kim cương được dùng để chỉ những
gì cực kỳ cứng và quý giá. Hơi nước trong không khí đọng lại thành sương, nằm trên lá chỉ trong chốc lát rồi tan biến đi. Trong quan niệm của người Nhật, giọt sương tượng trưng cho những gì mong manh và chóng qua. Trong bài thơ này, 1 giọt sương trông có vẻ trơ trọi, đơn độc và mong manh lại nằm vững chắc trên 1 hòn đá, phản chiếu những tia sáng lấp lánh chẳng khác gì 1 viên kim cương đang chiếu sáng. Sự tương phản giữa 2 sự vật thật là sống động.
Tiền thân của thể thơ Haiku là haikai. Buổi đầu, thể thơ haikai chỉ thịnh hành tại các thiền viện, thiền tự, các gia đình samurai. Haikai bắt đầu thông dụng từ thời Kokinshu. Haikai là những bài thơ có 5 câu, gồm hai phần: maeku (phần đầu) và stukeku (phần kết). Phần đầu nội dung càng bí hiểm thì phần kết càng phải tường minh, phải bảo đảm sao cho cả ý lẫn lời phải đối nhau nhưng vẫn phải làm rõ ý thơ đầu.
Abunaku mo ai (em bỗng vừa sợ)
Medetaku mo ai (em bỗng vừa vui)
Muko iri-no (đến bên anh)
Yuube-ni wataru (lao vào màng đêm)
Hitostubashi (trên súc gỗ tròn trên suối)
MORITAKE
Dần dà, thơ haikai được cách tân nên diện mạo khác hẳn. Hình thức cơ bản của thể loại sau này là những bài thơ 3 câu (5-7-5 âm tiết). Đó chính là hình thức thơ haiku.
kareeda ni (trên cành cây trụi lá)
karasu no tomaritaru (một con quạ đậu, cô liêu)
aki no kura (chiều thu)
MASTUO BASHO
một bài rất nổi tiếng của Takahama Kyoshi
năm cũ
năm mới
như thể xuyên thủng nhau
Bài thơ nói về niềm hoan hỉ của những người nhạy cảm trước sự biến chuyển của thời gian
heburashete (những viên kẹo hình bông hoa)
yashinaitate (cứ để cậu bé mút)
hana-no ame (như trẻ con bú)
TEITOKU
Trong thơ haiku, ngôn từ phải lùi xuống hàng thứ yếu, cái giữ vị trí đọc tôn là là ẩn ý của thi nhân. Bài thơ chỉ truyền đến người đọc cảm xúc thẩm mỹ của nhà thơ. Đối tượng được nói đến trong thơ vốn chịu nhiều ảnh hưởng sâu đậm của Thiền: những sự vật bình dị, thiên nhiên liên quan đến cuộc sống của người dân Nhật Bản.
Thể haiku là một minh họa đặc sắc cho một khía cạnh của bản sắc dân tộc Nhật. Quá trình trau chuốt lâu dài và bền bỉ thể loại đó trong nền thi ca Nhật đã làm nảy nở một hiệu quả nghịch: haiku trong chừng mực nhất định đã góp phần củng cố nơi người Nhật ý niệm về cái vô thức - được coi như nguyên tắc sống chủ đạo của họ. Mọi loại hình nghệ thuật khác đều bị chi phối bởi những đòi hỏi của thể thơ haiku. Trong sinh hoạt sân khấu Nhật, nguyên tắc này được thể hiện rõ nhất trong các vở diễn kịch Noh đặc sắc.
- 22/04/2010 03:58 - Tính Cách Người Nhật Bản (P2)
- 22/04/2010 03:11 - Tính Cách Người Nhật Bản (P1)
- 17/04/2010 08:07 - Cơm Trà Xanh "Ochazuke"
- 10/04/2010 08:21 - Yosakoi - Vũ Điệu Mùa Hè Sôi Động
- 09/04/2010 02:53 - Junihitoe - Thập Nhị Y
- 07/04/2010 07:13 - Bùa Hên Độc Đáo Của Xứ Phù Tang
- 07/04/2010 03:40 - Những Trò Chơi Truyền Thống Nhật Bản
- 02/04/2010 07:21 - Đền Yasukuni & Nước Nhật
- 23/03/2010 03:57 - Văn Hóa Cà Phê Trên Xứ Sở Phù Tang
- 18/03/2010 02:02 - Omizu Tori, Nghi Lễ Lấy Nước Nổi Tiếng Của Người Nhật












